Lịch sử Tử Vi Đẩu Số | Tiệp Lãm, Toàn Thư, Trần Đoàn
Tử Vi Đẩu Số dùng giờ sinh âm lịch, an 14 chính tinh cùng hư tinh vào 12 cung, luận tính cách và sự việc từng cung. Cần xem thêm Tứ Hóa và toàn bộ lá số.
Mục lục trang này
Tử Vi Đẩu Số dùng giờ sinh âm lịch, an 14 chính tinh cùng hư tinh vào 12 cung, luận tính cách và sự việc từng cung. Tên sao mượn thiên văn, lập lá số không đối chiếu bầu trời đêm sinh. Đây không phải hệ thống hoàn chỉnh có từ thượng cổ, mà là thuật tinh mệnh đến sau đời Minh mới có tên sách xác thực.
《Tứ Khố Toàn Thư》 thời Thanh, bộ Tử thuật số thu Thất Chính Tứ Dư, Tử Bình Bát Tự… không thu Tử Vi Đẩu Số. Chỉ cho thấy mục lục quan tu lúc ấy không coi đẩu số là dòng chính, không thể suy ra bị cấm.
Truyền thống tinh mệnh, không phải truyền thừa một đường
Từ Đường Tống, Thất Chính Tứ Dư (đời sau còn gọi Quả Lão tinh tông) lấy Nhật, Nguyệt, ngũ tinh làm «thất chính», lấy La Hầu, Kế Đô, Tử Khí, Nguyệt Bột làm «tứ dư», suy mệnh theo thiên tượng thời thực. Tinh mệnh đời Đường đã hấp thụ khái niệm yêu tinh và cung vị từ Ấn Độ, Ba Tư, rồi kết hợp lịch pháp bản thổ. Trương Quả truyền thuật cũng là ký cổ, cùng kiểu mượn danh Trần Đoàn của đẩu số.
Đẩu số ra sau; cấu trúc 12 cung, hợp xem cung đối cùng nguồn với truyền thống tinh mệnh này, nhưng đổi thành hư tinh cộng cục số, không cần quan sát hành tinh. Hai bên song hành, không phải Thất Chính Tứ Dư đổi tên thành đẩu số. Gọi quan tinh thời Chiến Quốc hay «tam viên» thẳng là nguồn đẩu số thì thời điểm cũng sai: hình dung trung cung, đế tọa đã có trong 《Sử Ký·Thiên Quan Thư》 đời Hán; tam viên thành khu vực hoàn chỉnh phải đến thiên văn chí Tấn Đường mới định hình. Phân biệt hư tinh và tên thiên văn, xem hư tinh và đối chiếu thiên văn.
Trần Đoàn sáng thuật là ký cổ
Bản lưu hành thường ký danh Trần Đoàn (Trần Hy Di) cuối Ngũ Đại đến đầu Bắc Tống. Trần Đoàn nổi tiếng đan đạo, Dịch học; chính sử và văn tập đáng tin không có bằng chứng ông viết đẩu số. Chuyện Lã Động Tân truyền Trần Đoàn, rồi truyền Thiệu Ung, càng không có tư liệu. Sách thuật số mượn danh nhân lập tổ là việc thường thấy — coi như biểu tượng, đừng coi là sự thực.
Tư liệu: Tiệp Lãm, Đạo Tạng, Toàn Thư và Toàn Tập
Khắc bản sớm nhất xác nhận tên sách «Tử Vi Đẩu Số» là 《Tử Vi Đẩu Số Tiệp Lãm》 Vạn Lịch 9 (1581), đã có pháp an sao và ca quyết.
Vạn Lịch 35 (1607) 《Vạn Lịch Tục Đạo Tạng》 còn thu 《Tử Vi Đẩu Số》 ba quyển, nội dung thuộc thập bát phi tinh (Thuật Thiên Cơ); sao và lập lá khác hẳn lá số 14 chính tinh thông hành hôm nay, không thể coi là bản tổ cùng hệ.
Hai bộ khắc Thanh phổ biến nhất nay là 《Tử Vi Đẩu Số Toàn Thư》 và 《Tử Vi Đẩu Số Toàn Tập》 (bộ sau thường khắc chung thập bát phi tinh với Hy Di đẩu số). 《Toàn Thư》 có tựa ký La Hồng Tiên, Gia Tĩnh Canh Tuất (1550), năm sớm hơn 《Tiệp Lãm》; nhưng khắc bản còn lại đa số là khắc Thanh, tựa này có phải của La thị hay không, học giới vẫn dè dặt. La Hồng Tiên (1504–1564) là tiến sĩ Gia Tĩnh, nổi tiếng lý học; ông có thật sự chỉnh lý đẩu số hay không, không nên viết như sự kiện. Diện mạo thông hành của 14 chính tinh, 12 cung, thần sát, đại khá định hình nhờ các khắc bản Minh Thanh này.
Hóa Khoa hai can Canh, Nhâm, 《Toàn Thư》 và 《Toàn Tập》 không thống nhất, xem Tứ Hóa.
Cận hiện đại
Thời Dân Quốc đã có chuyên thư, như Vương Tài San 《Đẩu Số Tuyên Vi》 (1935). Sau thập niên 1950, Đài Loan, Hong Kong nhờ xuất bản và giảng dạy lại thịnh. Luận truyền thống lấy Tam Hợp hệ 《Toàn Thư》 (tam phương tứ chính, tổ hợp sao) làm xương; từ thập niên 1980, Đài–Cảng thêm trọng Tứ Hóa Phi Tinh và Tự Hóa (Trung Châu, Khâm Thiên mỗi nơi có thuyết), truyền song song với Tam Hợp, không phải «cổ phái» độc lập sẵn có trong cổ tịch. Hướng phân tích xem Tam Hợp, Phi Tinh, Tự Hóa.
Lập lá số và loạt bài xem chuyên đề Tử Vi Đẩu Số của Minh Minh Quán Chỉ.
Thầy Minh
Thầy Tử Vi & Tứ trụ
Thầy Minh tu luyện mệnh lý hơn 20 năm, chủ yếu về Tượng Số Tâm Học Tử Vi Đẩu Số, Bát Tự và Thất Chính Tứ Dư. Ngài sư thừa Thầy Lưu Kim Phủ, Hoàng Nhân Long (Đài Loan), Lương Kiếm Hào (Hồng Kông) và hơn mười danh sư khác ở Trung Quốc và Đài Loan.
Ngoài lập lá số truyền thống, Thầy Minh còn phát triển và tinh chỉnh AI engine riêng của trang để sắp xếp phần luận giải vận trình.
Về thầy MinhBài liên quan
Bài nhập môn
Cự Môn tọa Mệnh Thìn/Tuất: tính cách và vận số
Giải nghĩa chính xác Cự Môn tọa Mệnh Thìn/Tuất và cách tổ hợp này thể hiện qua tính cách, sự nghiệp, tài vận, tình cảm cùng các bước ngoặt.
Cự Môn tọa Mệnh Tỵ/Hợi: điểm mạnh và rủi ro
Phân tích Cự Môn ở cung Mệnh Tỵ/Hợi qua ưu thế, mâu thuẫn, điều kiện thuận lợi và ảnh hưởng đến nghề nghiệp, tài lộc, các mối quan hệ.
Cự Môn tọa Mệnh Tý/Ngọ: sự nghiệp và tài lộc
Bài viết luận Cự Môn tọa Mệnh Tý/Ngọ, làm rõ sở trường, điểm yếu, cơ hội phát triển cùng xu hướng công việc, tiền bạc và tình cảm.
Liêm Trinh Phá Quân tọa Mệnh Mão/Dậu
Khám phá Liêm Trinh Phá Quân tại cung Mệnh Mão/Dậu, tập trung vào khí chất, cơ hội, rủi ro, đường sự nghiệp, tài lộc và cách ứng xử trong quan hệ.
Liêm Trinh Thất Sát tọa Mệnh Sửu/Mùi
Luận Liêm Trinh Thất Sát tọa Mệnh Sửu/Mùi, gồm tính cách cốt lõi, điểm mạnh, rủi ro cùng ảnh hưởng đến sự nghiệp, tài lộc và tình cảm.
Liêm Trinh Tham Lang tọa Mệnh Tỵ/Hợi
Tìm hiểu cách cục Liêm Trinh Tham Lang tại cung Mệnh Tỵ/Hợi, từ khí chất, khả năng phát triển đến lưu ý về công việc, tiền bạc và quan hệ.