Hư tinh Tử Vi Đẩu Số | Không đối trời đêm sinh

Tên sao đẩu số đến từ Tử Vi viên, Bắc Đẩu, Nam Đẩu; lập lá số lại không xem bầu trời đêm sinh. Phối hợp mười hai cung và vận hạn khi luận.

Tử Vi Đẩu Số
Mục lục trang này

Tên sao đẩu số đến từ Tử Vi viên, Bắc Đẩu, Nam Đẩu; lập lá số lại không xem bầu trời đêm sinh. Gọi thẳng «sao Tử Vi» là sao Bắc Cực ngày nay là cách nhầm tên phổ biến nhất.

Tử Vi viên không phải một ngôi sao

Thiên văn cổ chia bầu trời bắc thành tam viên. Tử Vi viên (trung cung) bao quanh cực bắc thiên cầu; người xưa hình dung là nơi Thiên Đế cư trú. Đối chiếu thô với chòm sao hiện đại, khoảng Tiểu Hùng, Đại Hùng, Thiên Long. Hệ phân vùng này trước dùng để nhận phương hướng, định tiết khí; sau mới gắn biểu tượng triều đình, tôn ti. Thiên văn chí Tấn Đường mới viết tam viên thành khu vực hoàn chỉnh; đời Hán 《Sử Ký·Thiên Quan Thư》 đã có trung cung, đế tọa, nhưng chưa phải tấm đồ tam viên đời sau.

Đế tinh, Câu Trần Nhất, Tử Vi trong đẩu số

Sao Tử Vi trong đẩu số là hư tinh; tên lấy từ «đế tọa» của Tử Vi viên, không phải mang một ngôi hằng tinh vào lá số.

Trong thiên văn cổ, ngôi thường gọi Đế tinh là sao thứ hai quan Bắc Cực — Bắc Cực nhị (Tiểu Hùng β ngày nay, Kochab). Ngôi gần cực bắc thiên cầu nhất hôm nay, tục gọi sao Bắc Cực, là Câu Trần Nhất (Tiểu Hùng α, Polaris), thuộc quan Câu Trần, không cùng ngôi với Đế tinh.

Trục tự quay Trái Đất có tuế sai, chu kỳ khoảng hai vạn sáu nghìn năm; cực bắc thiên cầu dịch chậm. Sao cực vài nghìn năm trước khác hôm nay; «Đế tinh bất động» là gần đúng trên quan sát, không phải bất biến.

Bắc Đẩu, Nam Đẩu: mượn tên, không mượn phương vị

Bắc Đẩu thất tinh (Thiên Khu, Thiên Toàn, Thiên Cơ, Thiên Quyền, Ngọc Hành, Khai Dương, Dao Quang) là dấu hiệu nhận hướng và mùa ở bán cầu bắc. Đẩu số đối tên Tham Lang, Cự Môn, Lộc Tồn, Văn Khúc, Liêm Trinh, Vũ Khúc, Phá Quân với chúng; lập lá số không theo vị trí thực tế của Bắc Đẩu lúc sinh.

Nam Đẩu trên thiên cầu là Đẩu tú, khoảng chòm Nhân Mã, sáu sao thành muỗng. Nam Đẩu trong đẩu số (Thiên Phủ, Thiên Tướng, Thiên Lương…) cũng mượn tên. Đạo giáo có «Nam Đẩu chú sinh, Bắc Đẩu chú tử» — đó là thuyết tôn giáo, đẩu số không nhất thiết theo.

Hư tinh nghĩa là gì

  1. Tên có lai lịch: 14 chính tinh chia Bắc Đẩu, Nam Đẩu, trung thiên… tham khảo thiên văn cổ, không đặt tên tùy tiện.
  2. Lập lá không đối trời: tính theo âm lịch, giờ sinh và quy tắc an sao cố định. Khác Thất Chính Tứ Dư, chiêm tinh phương Tây an sao theo vị trí hành tinh thời thực.

Hệ 《Tử Vi Đẩu Số Toàn Thư》 dùng sao như ký hiệu, không phải báo cáo quan sát. Nguồn gốc xem lịch sử; các bước lập lá xem hướng dẫn lập lá số.

Cổng lập lá số: chuyên đề Tử Vi Đẩu Số của Minh Minh Quán Chỉ.

Tác giả

Thầy Minh

Thầy Tử Vi & Tứ trụ

Thầy Minh tu luyện mệnh lý hơn 20 năm, chủ yếu về Tượng Số Tâm Học Tử Vi Đẩu Số, Bát Tự và Thất Chính Tứ Dư. Ngài sư thừa Thầy Lưu Kim Phủ, Hoàng Nhân Long (Đài Loan), Lương Kiếm Hào (Hồng Kông) và hơn mười danh sư khác ở Trung Quốc và Đài Loan.

Ngoài lập lá số truyền thống, Thầy Minh còn phát triển và tinh chỉnh AI engine riêng của trang để sắp xếp phần luận giải vận trình.

Về thầy Minh

Nhập ngày giờ sinh để xem lá số và điểm nhấn lưu niên.