Cung Phụ Mẫu Tử Vi | Tứ Hóa xem học tập thế nào

Phụ Mẫu nghe như chỉ nói cha mẹ. Trên lá nó cũng quản bề trên, cấp trên, thầy, và bạn học thế nào, học gì, chứng chỉ và danh phận từ đâu.

Tử Vi Đẩu Số
Mục lục trang này

Phụ Mẫu nghe như chỉ nói cha mẹ. Trên lá nó cũng quản bề trên, cấp trên, thầy, và bạn học thế nào, học gì, chứng chỉ và danh phận từ đâu.

Nên muốn đoán lực học nhanh, bắt đầu từ Tứ Hóa ở Phụ Mẫu. Không cần thuộc mười bốn chính tinh trước. Cung này có Lộc, Quyền, Khoa hay Kỵ đã bắt được vị học: rộng, chuyên, thông, hay ngách.

Phương pháp nhanh. Nhanh không phải cẩu. Tứ Hóa là gia vị; sao là nguyên liệu. Sao nào ngồi Phụ Mẫu, miếu vượng hay lạc hãm, vẫn phải xem cùng. Dưới là «bắt hướng trước» trên lớp. Mười hai cung: 12 cung, 12 cung nghĩa ẩn.

Vì sao học xem từ Phụ Mẫu

Trong Đẩu Số, Phụ Mẫu là văn thư, quý nhân, dạy dỗ, thể thống. Trẻ được dạy thế nào, người lớn đối quyền uy thế nào, sau thành cách họ đối tri thức.

Thầy nói một câu, họ liền suy ra, hay phải luyện lại cùng một môn? Không phải IQ thô. IQ cũng để dấu ở Mệnh, Phúc Đức, Quan Lộc. Phụ Mẫu giống «cửa vào học» hơn: gặp cái mới, động đầu là đuổi trào, khoan một nghề, trải mặt, hay chỉ đụng vài thứ.

Tứ Hóa vào Phụ Mẫu, gắn lọc lên cửa ấy. Hóa Lộc: cửa rộng. Hóa Quyền: cửa sâu. Hóa Khoa: cửa sáng. Hóa Kỵ: cửa hẹp, nhưng có thể rất sâu.

Tứ Hóa và học: Lộc rộng, Quyền chuyên, Khoa thông, Kỵ ngách

Hóa Lộc: sát thời, tạp cũng nhanh

Lộc ở Phụ Mẫu: học nghiêng đa dạng, linh hoạt. Công cụ mới, nói mới, ngành mới không làm họ sợ. Người khác còn xem; họ đã dùng. Loại đụng cũng rộng hơn; hầu hết thứ đều nói được vài câu.

Cộng là không tụt thời. Hợp nội dung, bán, việc xuyên lĩnh, ngành theo trào. Giá là học nông. Cửa quá rộng, họ tưởng mình biết hết. Khuyên học viên này: rộng được, nhưng để một nghề luyện đến dạy được người. Không thì sau ba mươi thành người biết một chút mọi thứ, đứng một mình không việc nào.

Lộc ở Phụ Mẫu: đường bề trên thường thuận hơn; nguồn học đến dễ — sách được cấp, cơ được cho, người chịu dạy. Nguồn nhiều, phải tự đặt độ sâu.

Hóa Quyền: khoan vào chuyên

Quyền ở Phụ Mẫu: học như đào giếng. Lĩnh không cần nhiều. Phải thành người quyết được trong một lĩnh. Không sợ lặp, không sợ khó. Sợ học rồi không có ghế.

Hợp đường chuyên: kỹ thuật, học thuật, chứng chỉ, một nghề luyện mười năm. Trên lớp người này không hỏi «còn gì vui». Họ hỏi «thế nào mới là chuyên gia».

Giá là rẽ chậm. Ngành đổi, họ đau. Khuyên không phải biến họ thành tạp học. Bên nghề chính để một nhánh chuyển được. Quyền là sâu, không phải đường cụt, nếu thỉnh thoảng ngẩng đầu.

Hóa Khoa: mặt tri thức và thông thức

Khoa ở Phụ Mẫu: học nghiêng mặt, chính thống, thông. Môn nền, lý thuyết, tri thức nói được nơi công, họ học thuận hơn. Người cũng thường được thấy nhờ học, thi, danh văn.

Khoa không luôn điểm nhất. Là «trông như đã học». Lời nói, chứng chỉ, mặt tiền, đều buộc với học. Hợp dạy, việc văn, nghề cần danh phận.

Giá đôi khi danh hơn dụng. Thi nhiều; tay nghề không luôn nhất. Học viên này cần hiện trường: thực tập, ca, tay. Khoa bật đèn. Tay vẫn phải luyện.

Hóa Kỵ: ít loại, đường lệch, nhưng có thể sâu

Kỵ ở Phụ Mẫu: phạm vi học thường hẹp. Cái nóng, cái ai cũng đọc, họ chưa chắc vào được. Cái lạ, ngách, người khác gọi vô dụng, họ có kiên nhẫn.

Không phải ngu. Kỵ ở Phụ Mẫu thường nghĩa không khớp thầy hay hệ: không nhận được cách dạy chính, hoặc đường trường nhiều gãy. Một khi tìm được giếng mình, khoan có thể giật mình.

Nhà kỵ nhất so «xem người ta học gì». Càng so, Kỵ càng kết. Cho họ dựng cảm giác thành ở vài môn. Hiệu hơn ép cân bằng toàn khoa. Ngách sau hóa nóng thì thường. Tiền đề là họ thật học xong môn ấy.

Lá thật, đừng chỉ đọc một chữ

Tứ Hóa là sàng nhanh. Các lớp dưới đổi đáp.

Tứ Hóa bản mệnh, hay Tứ Hóa đại hạn và lưu niên. Bản mệnh Lộc ở Phụ Mẫu là vị dài hạn. Lưu niên Kỵ đánh Phụ Mẫu là năm học sượng, thầy không khớp, chứng chỉ lệch. Coi năm ấy thành cả đời, sẽ dọa người.

Chính tinh ở Phụ Mẫu. Cùng Hóa Quyền trên Thiên Cơ không giống trên Vũ Khúc. Thiên Cơ Quyền là chuyên trong mưu và biến; Vũ Khúc Quyền là chuyên trong kỹ, tiền, thực. Lộc Quyền Khoa Kỵ là gia vị. Chính tinh là món.

Miếu vượng hay lạc hãm. Phụ Mẫu miếu vượng: nguồn học và lối ra chính thống. Lạc hãm cộng Hóa Kỵ: gãy cụ thể hơn — chuyển trường, nghỉ học, chọi ý bề trên. Lạc hãm cộng Hóa Lộc: nguồn vẫn có; cái học có thể nghiêng hưởng và cảm. Phải tự thêm sâu.

Sát tinh, Địa Không Địa Kiếp. Hỏa Linh, Kình Đà, Không Kiếp chồng Phụ Mẫu: quá trình học ồn, gãy, đột cắt. Tứ Hóa đẹp đến mấy, vẫn tính ổ gà. Kình Đà và Hỏa Linh: Kình Dương và Đà La, Hỏa Tinh và Linh Tinh.

Thứ tự nhanh trên lớp

  1. Tìm Phụ Mẫu. Xem chính tinh, miếu vượng hay lạc hãm.
  2. Xem Tứ Hóa bản mệnh có vào Phụ Mẫu không. Trước bắt vị bằng Lộc rộng, Quyền chuyên, Khoa thông, Kỵ ngách.
  3. Xem đại hạn hay lưu niên có phi Tứ Hóa vào, để giải «vì sao mấy năm học đột thuận hay đột kém».
  4. Đối Mệnh và Quan Lộc: vị học đã thành việc chưa. Phụ Mẫu học; Quan Lộc dùng.
  5. Hỏi lịch thật của mệnh chủ. Đẩu Số là bản đồ. Đường phải đi mới thấy. Khớp, sàng nhanh mới tính.

Phụ Mẫu còn một lớp là bề trên chính họ. Hóa Kỵ không luôn đứa trẻ đần. Có thể sức khỏe cha mẹ, dưỡng dục, hay quan hệ khiến môi trường học không ổn. Xem học, trước hỏi nhà lúc ấy đang xảy gì.

Bảng Tứ Hóa: Tứ Hóa nhập môn, Tứ Hóa mười thiên can.

Cổng lập lá số: chuyên đề Tử Vi Đẩu Số của Minh Minh Quán Chỉ.

Cung Phụ Mẫu Tử Vi Đẩu Số xem học hỏi thường gặp

Phụ Mẫu không Tứ Hóa — học trung bình?

Không. Không Tứ Hóa, xem chính tinh. Thiên Cơ, Văn Xương Văn Khúc, Hóa Khoa ở cung khác vẫn học. Tứ Hóa là sàng nhanh, không phải điểm duy nhất.

Hóa Kỵ ở Phụ Mẫu — không hợp học?

Không hợp bị cùng một hệ thúc. Đổi cách, đổi môn, đi thực hay ngách, thường thông. Kỵ là ma sát. Ma sát mài ra chuyên, cũng mài ra bỏ. Khác ở có người giúp họ tìm cửa đúng không.

Người lớn đổi nghề vẫn xem Phụ Mẫu được?

Được. Phụ Mẫu quản cửa vào học, không quản tuổi. Đổi nghề tuổi ba mươi, Tứ Hóa lưu niên vào Phụ Mẫu vẫn hiện năm ấy hợp học rộng, khoan sâu, hay chọi thầy và khóa.

Hóa Lộc và Hóa Kỵ cùng — đoán thế nào?

Xem cùng năm hay bản mệnh cộng đại hạn. Bản mệnh Lộc, đại hạn Kỵ: học vốn tạp, mười năm này đột kẹt và hẹp. Cùng năm vừa Lộc vừa Kỵ: thường học nhiều cũng bực nhiều; thích đến nhanh, nghi cũng đến nhanh. Cho họ chọn một môn, coi Kỵ là sâu, Lộc là mặt tiếp. Đừng đổ đầy cả hai.

Tác giả

Thầy Minh

Thầy Tử Vi & Tứ trụ

Thầy Minh tu luyện mệnh lý hơn 20 năm, chủ yếu về Tượng Số Tâm Học Tử Vi Đẩu Số, Bát Tự và Thất Chính Tứ Dư. Ngài sư thừa Thầy Lưu Kim Phủ, Hoàng Nhân Long (Đài Loan), Lương Kiếm Hào (Hồng Kông) và hơn mười danh sư khác ở Trung Quốc và Đài Loan.

Ngoài lập lá số truyền thống, Thầy Minh còn phát triển và tinh chỉnh AI engine riêng của trang để sắp xếp phần luận giải vận trình.

Về thầy Minh

Nhập ngày giờ sinh để xem lá số và điểm nhấn lưu niên.