Hợp trong Bát Tự xem sao|Thiên Can ngũ hợp Địa Chi lục hợp

Học viên học Bát Tự, chỗ dễ kẹt nhất một trong số đó chính là « hợp ». Không nên tách một yếu tố để kết luận cát hung. Hãy xem đúng bối cảnh trước khi áp dụng.

Bát Tự
Mục lục trang này

Học viên học Bát Tự, chỗ dễ kẹt nhất một trong số đó chính là « hợp ».

Sách có Thiên Can ngũ hợp, Địa Chi lục hợp, sau còn tam hợp, bán hợp, ám hợp. Tên nhiều, người rối. Trên lớp tôi thu hẹp phạm vi trước: phái Ngũ hành xem lá số, hàng ngày hãy xem rõ Thiên Can ngũ hợp và Địa Chi lục hợp. Các hợp khác, đợi hai thứ này dùng thuận rồi hãy thêm.

Hợp nghĩa không phải hai chữ dính nhau là biến tốt. Hợp là một lực kéo. Hai chữ hút nhau, lực vốn đi đường riêng bị kéo về cùng một hướng. Kéo xong tốt hay không với mệnh chủ, phải xem bạn thiếu gì, sợ gì.

Vì sao « hợp » luôn khó hiểu

Hợp khó hiểu không vì khẩu quyết phức tạp, mà vì dáng nó trong đời rất tạp.

Cùng là hợp, người thì hiện thành hợp tác, kết hôn, ký hợp đồng; người thì hiện thành tiền bị mượn, quyết định bị người khác chi phối, việc mình muốn làm không thành. Trên giấy viết « Giáp Kỷ hợp Thổ », trong đời có thể là một hợp đồng, một mối quan hệ, hoặc một sự ràng buộc nói không rõ.

Vậy hợp không thể chỉ thuộc khẩu quyết. Muốn hiểu hợp, phải có trải nghiệm đời, cũng phải xem rõ hỷ kỵ của bàn. Không có hỷ kỵ, hợp chỉ là danh từ rỗng.

Xem lá số, trước tìm « khắc », rồi quay lại xem « hợp »

Để người mới không xem quá nhiều một lúc, tôi dạy xem lá số theo một thứ tự:

Tạm để hợp sang một bên, đi tìm sinh khắc, đặc biệt là « khắc ».

Khắc thẳng hơn, đau hơn hợp. Ngũ hành nào trong bàn bị khắc, vấn đề thường ở đó. Tài bị khắc, tiền không ổn; Quan bị khắc, sự nghiệp hoặc áp lực có chuyện; Ấn bị khắc, học hành, quý nhân, thân thể hoặc chỗ dựa dễ ra vấn đề.

Nhưng có bàn gần như không thấy khắc rõ, chỉ thấy một đống hợp. Bàn kiểu này không dùng được chiêu « trước mặc hợp ». Phải ngồi xuống, từng hợp hỏi: hợp đi cái gì? hợp tới cái gì? mệnh chủ có cần không?

Trên lớp tôi thường nói: khắc là đánh, hợp là kéo. Bị đánh, đau rất rõ; bị kéo, đôi khi còn tưởng là quan tâm.

Hợp tốt hay không, chỉ hỏi một câu: bạn có cần thứ bị hợp không

Phán lợi hại của hợp, cách đơn giản nhất là xem nhu cầu.

Hai ví dụ thường gặp.

Thứ nhất, mệnh chủ giai đoạn này cần Tài. Đại Vận hoặc Lưu Niên hợp Tài đi. Tiền không biến mất vô cớ, mà bị kéo sang chỗ khác: cho người vay, buộc trong quan hệ, hoặc tiêu vào chỗ không nên tiêu. Hợp kiểu này bất lợi với mệnh chủ.

Thứ hai, mệnh chủ đang bị Quan Sát khắc khổ, áp lực việc lớn, thị phi nhiều. Đại Vận hoặc Lưu Niên hợp Quan Sát đi. Áp lực bị kéo ra, người ngược lại thở được. Hợp kiểu này có lợi với mệnh chủ.

Vậy đừng thấy hợp đã nói tốt, cũng đừng thấy hợp đã nói xấu. Hợp là lực kéo trung tính. Hỷ dụng thần bị hợp đi là mất; kỵ thần bị hợp đi là giải.

Bản mệnh có hợp, ảnh hưởng gần như cả đời

Hợp Lưu Niên đến nhanh, đi cũng nhanh. Hợp trong bản mệnh khác. Nó là kết cấu, không phải thời tiết.

Người bẩm sinh bàn đã có hợp, sự ràng buộc này gần như theo cả đời. Không phải ngày nào cũng phát, nhưng gặp đúng người, đúng dịp, nó sẽ ra.

Điển hình nhất là Tỷ Kiếp hợp Tài. Bạn bè, đồng nghiệp, anh chị em vừa xen vào, tiền dễ bị kéo: hợp tác, đãi khách, vay mượn, trả hộ. Đương sự chưa chắc bị lừa; nhiều lúc là mình mềm lòng, hoặc thấy « người nhà, nên giúp ».

Bản mệnh có hợp, trọng điểm không phải sửa nó, là nhận nó, rồi học đặt giới hạn. Hợp không vì bạn không thích mà biến mất. Việc bạn làm được, là biết mình dễ bị kéo ở đâu, nói rõ quy tắc trước.

Muốn xem loại hợp này kỹ hơn, đọc tiếp:

Các loại hợp trên lớp thường bị hỏi

Thiên Can ngũ hợp là gì

Giáp Kỷ hợp Thổ, Ất Canh hợp Kim, Bính Tân hợp Thủy, Đinh Nhâm hợp Mộc, Mậu Quý hợp Hỏa.

Xem Thiên Can hợp, trước xem hai tạo có sát nhau không, giữa có bị ngăn không. Giai đoạn mới học, đừng vội bàn « hợp hóa thành công chưa ». Trước phán hai việc: hai lực này có kiềm chế nhau không? Ai bị ai kéo đi?

Thiên Can hợp thường hiện trên « người » và « quyết định ». Ví dụ Quan bị hợp, có thể là cấp trên, thể chế, danh phận bị người cắt; Tài bị hợp, có thể là thu nhập, cơ hội, quan hệ dị tính bị kéo đi.

Địa Chi lục hợp là gì

Tý Sửu hợp Thổ, Dần Hợi hợp Mộc, Mão Tuất hợp Hỏa, Thìn Dậu hợp Kim, Tỵ Thân hợp Thủy, Ngọ Mùi hợp Thổ.

Địa Chi hợp đời hơn. Nó thường hiện thành môi trường, nhân vật, dịp dính bạn. Tài bị hợp, không nhất thiết tài khoản ít tiền, cũng có thể tiền bị nhà, tình nghĩa, hợp tác buộc chết, không dùng ra được.

Lực Địa Chi hợp « chậm » hơn, nhưng dính chặt hơn. Thiên Can hợp như quyết định lúc ấy; Địa Chi hợp như cảnh ngộ dài hạn.

Hợp và khắc cùng lúc thì sao

Trước xem khắc, rồi xem hợp. Khắc là tổn thương, hợp là ràng buộc. Một người vừa bị khắc vừa bị hợp, thường là: ngoài có áp lực, trong còn có người kéo bạn. Bàn kiểu này, làm việc dễ bị trói tay.

Ví dụ Tài bị Tỷ Kiếp khắc, lại bị Tỷ Kiếp hợp. Nghĩa rất trắng: người bên cạnh vừa khiến bạn tiêu tiền, vừa khiến bạn không nỡ từ. Không phải phá tài thuần, là phá tài còn kèm tình cảm.

Bước phán, bạn có thể làm theo

Xem hợp, đừng lật một câu đông một câu tây. Có thể cố định năm bước:

  1. Trước định nhật chủ mạnh yếu, cùng giai đoạn này cần gì nhất, sợ gì nhất.
  2. Tạm bỏ hợp, tìm sinh khắc rõ, đặc biệt Ngũ hành bị khắc.
  3. Nếu bàn chủ yếu là hợp, không có khắc rõ, thì từng hợp mà xem.
  4. Hỏi ba câu: hợp hỷ dụng hay kỵ thần? hợp đi hay hợp tới? xảy ra ở bản mệnh, Đại Vận, hay Lưu Niên?
  5. Hợp bản mệnh xem tính cách và mô thức dài hạn; hợp Đại Vận xem chủ đề mười năm; hợp Lưu Niên xem nhân sự năm ấy.

Hợp Đại Vận thường thành « quan hệ hoặc chủ đề mười năm này bạn thoát không nổi ». Hợp Lưu Niên giống người, hợp đồng, vay mượn hoặc biến động việc đột ngột một năm. Cùng là hợp Tài, bản mệnh có và Lưu Niên mới có, cách xử khác: bên kia đặt giới hạn dài hạn, bên này cẩn thận tình nghĩa năm ấy.

Ba hố người mới dễ giẫm

Thứ nhất, thấy hợp đã nói hợp hóa. Sách viết Giáp Kỷ hợp Thổ, không có nghĩa Giáp và Kỷ trong bàn đều biến thành Thổ. Hợp hóa phải xem nguyệt lệnh, thông căn, xa gần. Không đủ điều kiện, chỉ là hợp, không phải hóa.

Thứ hai, coi hợp là từ chuyên dùng hôn nhân. Hợp có thể là hôn nhân, cũng có thể là hợp tác, cho vay, bị buộc, bị kiềm chế. Phải phối Thập Thần và cung vị mới nói được loại nào.

Thứ ba, bỏ « ai đi hợp ai ». Tỷ Kiếp đi hợp Tài, và Tài tới hợp Tỷ Kiếp, trên giấy đều gọi hợp, trong đời quyền chủ động khác. Một bên bạn bị tiền và người kéo; một bên tiền và người bị bạn dính. Biện rõ điểm này, đoán sự sẽ trúng hơn nhiều.

Hợp trong Bát Tự xem sao câu hỏi thường gặp

Hợp hóa thành công, Ngũ hành gốc còn không?

Mới học đừng bị « hợp hóa » trói chết. Dù sách viết hợp hóa, trong đời nghĩa gốc thường vẫn còn, chỉ thêm một lớp ràng buộc. Đợi xem lá số quen rồi, mới chia hợp hóa hay không.

Hợp có phải đại diện kết hôn, hợp tác?

Có thể là, nhưng không nhất định. Hợp đại diện kéo vào nhau. Hôn nhân, hợp tác, hợp đồng, tình nghĩa, vay mượn, đều có thể là dáng của hợp. Phải phối Thập Thần, hành vận và việc cụ thể mới nói được loại nào.

Thứ hợp tới có phải đều là quý nhân?

Không. Hợp tới kỵ thần là kéo rắc rối lại gần; hợp đi hỷ dụng là kéo thứ bạn cần đi. Quý hay không xem nội dung, không xem chữ « hợp ».

Bản mệnh có hợp, đổi tên hoặc phong thủy có mở được không?

Ngoại lực nhiều lắm giảm khó chịu một đoạn thời gian, không đổi được kết cấu bàn. Việc thật sự hữu ích, là bạn biết mình sẽ bị kéo ở đâu, rồi nói rõ trước trên tiền, hợp đồng, tình nghĩa. Mệnh lý giúp bạn nhận đường, không giúp bạn nổ đường.

Nếu bạn đang học Bát Tự, nên khoanh hết hợp trong bản mệnh trước, đánh dấu là Tỷ Kiếp hợp Tài, Ấn hợp Tỷ Kiếp, Tỷ Kiếp hợp Quan Sát, hay Thực Thương hợp Quan, Thực Thương hợp Ấn, Tài hợp Ấn. Khoanh xong đối đời mình: tiền, bạn bè, việc, trưởng bối, miệng, đường nào hay bị kéo nhất. Khớp được, bạn bắt đầu thật sự biết xem hợp. Toàn đồ sinh khắc hợp Thập Thần xem Quan hệ Thập Thần Bát Tự là gì:sinh khắc hợp xem một lần.

Muốn đối chiếu lá số mình có nhóm quan hệ này không, hãy dùng lập lá số Bát Tự miễn phí của Minh Minh Quán Chỉ rồi đọc ý nghĩa Thập Thầntổng quan quan hệ Thập Thần Bát Tự.

27 bài

Nhập ngày giờ sinh để xem lá Tứ Trụ và điểm tính cách.