Đại Vận, Lưu Niên, Mệnh Cung, Thần Sát

Đại Vận mười năm (thuận/nghịch), phương pháp Lưu Niên (Nhật chủ, Đại Vận, Thập Thần và cung vị, biến dụng thần), mệnh cung phụ trợ, thần sát thực hành; luận động với công cụ Bát Tự Minh Minh Quán Chỉ.

Mục lục trang này

Bốn trụ bản mệnh là cấu trúc tĩnh; Đại Vận đổi mười năm một lần, Lưu Niên gắn từng năm, mới đẩy cục gốc vào trục thời gian. Có thể thêm Mệnh Cung, Thần Sát làm tham chiếu, nhưng không nên lấn át Can Chi chính. Dưới đây nói Đại Vận, Lưu Niên trong thực hành, rồi vị trí Mệnh Cung và Thần Sát.

Đại Vận: mười năm một giai đoạn

Đại Vận mười năm một đổi, không xếp tùy tiện: xem khoảng từ sinh đến tiết khí kế tiếp, và dương nam âm nữ / âm nam dương nữ để thuận hay nghịch đẩy trụ tháng. Dương nam âm nữ thường thuận, âm nam dương nữ thường nghịch. Khởi vận khoảng 3–8 tuổi; tính đúng mới biết năm nào bước vào bước Đại Vận nào.

Đại Vận trọng tương tác với cục gốc. Lấy Nhật Chủ làm trung tâm: Đại Vận sinh trợ ta (dụng thần đến) hay khắc tiết ta (kỵ thần đương đầu). Thân nhược hỷ Ấn Tỷ, Đại Vận Thủy Mộc thường thăng tiến, quý nhân; ngược lại Hỏa Thổ thì áp lực, hao tài, cảnh báo sức khỏe dễ lộ. Đại Vận định hướng mười năm, chi tiết vẫn xem Lưu Niên.

Lưu Niên: phương pháp thực hành

Lưu Niên là Can Chi năm hiện tại; phải đọc cùng cục gốc và Đại Vận mới luận xung hợp hình hại và sự tượng Thập Thần.

Có thể nắm bốn điểm:

  1. Quan hệ Can Chi năm với Nhật Chủ: Can là Chính Quan, Thất Sát, Tài, Ấn, Thực Thương hay Tỷ Kiếp? Chi còn xem xung, hợp, hình, hại. Can năm là dụng thần, chi hợp Nhật chi thì năm thuận hơn; xung Nhật chi hoặc Đại Vận thì biến động, tranh chấp, tâm lý dễ sóng.
  2. Kết hợp Đại Vận: Đại Vận là đường mười năm, Lưu Niên là xe năm đó. Đại Vận hỷ dụng đến, Lưu Niên lại trợ thì thế mạnh; Đại Vận đã kỵ, Lưu Niên lại xung thì gánh nặng tăng.
  3. Thập Thần và cung vị: Thập Thần năm ứng sự (Tài = tài chính, Quan = sự nghiệp hoặc áp lực, Thực Thương = sáng tạo hoặc con cái). Xem rơi trụ nào: niên trụ trưởng bối hoặc việc xa, nguyệt trụ cha mẹ hoặc công việc, nhật trụ bản thân và phối ngẫu, thời trụ con cái hoặc hậu vận.
  4. Dụng thần và biến cách: Thân cường nhược không cố định, Lưu Niên có thể đổi cục tạm thời. Tòng cách, giả tòng đặc biệt cần chú ý: năm phá cách dễ sóng.

Ví dụ: Giáp Mộc thân nhược hỷ Thủy, vận Thủy Mộc Lưu Niên đến thường thuận; vận Hỏa chồng thì tiết hao nặng, nên xem thân tâm trước rồi mới bàn thành tựu bên ngoài. Lá số thật vẫn phải xem xung hợp và bệnh dược.

Lưu Niên là «thiên thời» tham khảo, không phải định mệnh. Có thể chuẩn bị: lúc xông, lúc thủ, lúc hóa giải. Thần sát phụ trợ; sinh khắc Can Chi vẫn là gốc.

Mệnh Cung

Mệnh Cung trong Bát Tự có thể xem như «trụ thứ năm», bổ tính cách và hướng đời. Cách tính: 26 trừ (số chi tháng + số chi giờ) được chi, rồi phối can (theo bảng cố định).

Mệnh Cung thiên thiên phú, động lực nội tại, vận hậu vận. Khác Mệnh Cung Tử Vi—Tử Vi xem mười hai cung tương tác, Bát Tự Mệnh Cung bổ tinh thần cục gốc. Một số sư phối Mệnh Cung xem kiểu sống: ổn định hay thích mạo hiểm.

Thần Sát

Thần sát có đến trăm loại, thực hành thường dùng khoảng hai mươi. Cát như Thiên Ất Quý Nhân (quý nhân), Thái Cực Quý Nhân (trí tuệ, quý nhân), Thiên Đức Nguyệt Đức (hóa hung), Văn Xương (học thi, thi cử). Hung như Bạch Hổ (hình thương), Tang Môn Điếu Khách (tang phục hoặc tâm trạng thấp), Cô Thần Quả Tú (tình cảm cô độc), Dương Nhận (cương liệt, dễ xung động).

Thần sát chỉ nên làm chứng cứ phụ, không áp đè cục gốc. Cách tốt thì hung sát ảnh hưởng hạn chế; cách xấu thì cát tinh khó cứu. Năm hung sát nặng có thể kết hợp làm thiện, điều Ngũ hành hoặc nhà cửa, thường hơn thuần mê tín.

Đại Vận định cương mười năm, Lưu Niên định mục năm; Mệnh Cung, Thần Sát chỉ trợ. Muốn đối chiếu, vào dịch vụ Bát Tự Minh Minh Quán Chỉ dùng thử miễn phí.

Mục lục bài viết

10 bài

Nhập ngày giờ sinh để xem lá Tứ Trụ và điểm tính cách.