Đại Vận, Lưu Niên, Mệnh Cung, Thần Sát
Đại Vận mười năm (thuận/nghịch), tổng luận Lưu Niên (Nhật chủ, Đại Vận, thập thần và cung vị, biến dụng thần), mệnh cung phụ trợ, thần sát thực hành; luận động với công cụ Bát Tự Minh Minh Quán Chỉ.
Mục lục trang này
Bốn trụ bản mệnh cho bạn cái nền, nhưng đời người không đứng yên. Khi thời gian đi vào lá số, cùng một mệnh cục có thể cho ra diễn biến rất khác nhau. Phần làm nên chuyển động đó chính là Đại Vận và Lưu Niên. Còn Mệnh Cung và Thần Sát có thể dùng để bổ trợ, nhưng không nên đặt lên trên can chi chính của lá số.
Rất nhiều người sau khi lập lá số chỉ nhìn cấu trúc tĩnh rồi dừng lại. Như vậy đủ để nói về tính cách hay nền mệnh, nhưng chưa đủ để trả lời “mười năm này lên hay xuống”, “năm nào dễ đổi việc”, hay “thời điểm nào nên tiến, thời điểm nào nên giữ”.
Đại Vận là bối cảnh mười năm
Đại Vận là dòng khí lớn đổi theo chu kỳ mười năm. Nó không xếp ngẫu nhiên, mà dựa vào khoảng cách từ lúc sinh tới tiết khí kế tiếp, rồi xét quy tắc thuận nghịch theo âm dương nam nữ để đẩy trụ Tháng đi thuận hay đi nghịch. Dương nam và âm nữ thường đi thuận; âm nam và dương nữ thường đi nghịch, nhưng khi dùng thực tế vẫn nên lấy công cụ lập lá số chuẩn làm gốc.
Khi đọc Đại Vận, điều quan trọng nhất là nó tương tác với cục gốc ra sao:
- nó sinh trợ Nhật Chủ hay khắc tiết Nhật Chủ
- nó nâng dụng thần hay phá dụng thần
- nó tạo thêm hợp, xung, hình, hại với bản cục hay không
Ví dụ, nếu thân nhược và cần Ấn, Tỷ Kiếp, thì Đại Vận Thủy Mộc thường dễ đem theo sự hỗ trợ, cơ hội, quý nhân hoặc nhịp đi lên nghề nghiệp. Ngược lại, nếu vào vận Hỏa Thổ mà bản cục vốn không chịu nổi, áp lực công việc, hao tài và tiêu hao sức khỏe thường tăng rõ. Đại Vận không phải chuyện của một vài tháng; nó là phông nền của cả một giai đoạn.
Lưu Niên là chỗ sự việc thành hình
Lưu Niên là thiên can địa chi của từng năm. Nó chồng lên bản cục và Đại Vận, tạo ra sinh khắc, xung hợp, hình hại cụ thể. Vì vậy, Lưu Niên không nên xem rời, mà nên xem như một năm nằm bên trong một Đại Vận nhất định.
Khi đọc Lưu Niên, có thể đi theo thứ tự này:
- Xem can chi năm là gì đối với Nhật Chủ
Là Quan, Sát, Tài, Ấn, Thực Thương hay Tỷ Kiếp. Trước tiên phải biết năm đó mang loại lực nào vào lá số. - Xem nó có đồng hướng với Đại Vận không
Nếu Đại Vận vốn đang giúp, Lưu Niên lại tiếp sức, sự việc thường trôi thuận hơn. Nếu Đại Vận đã bất lợi mà năm còn đè thêm, vấn đề dễ lộ rõ thành việc. - Xem nó tác động vào trụ nào
Rơi vào Niên trụ thường đụng chuyện bên ngoài, trưởng bối, đường xa; rơi vào Nguyệt trụ hay chạm công việc và trách nhiệm thực tế; rơi vào Nhật trụ thường chạm bản thân và hôn phối; rơi vào Thời trụ có thể liên quan con cái, kế hoạch tương lai, giai đoạn hậu vận. - Xem nó có làm lung lay dụng thần hoặc cách cục không
Có những lá số bình thường vẫn ổn, nhưng một năm nào đó xung mất gốc duy nhất, hoặc hợp mất đúng dụng thần đang cần, thì toàn bộ nhịp đọc sẽ đổi. Các mệnh cục tòng hay giả tòng đặc biệt nhạy ở điểm này.
Vì thế, Lưu Niên không nên rút gọn thành vài chữ như “năm tốt” hay “năm xấu”. Điều cần nhìn là lực năm đó đi vào, chạm đâu, và đang cứu cục hay đang khoét sâu chỗ yếu của cục.
Mệnh Cung dùng như đường phụ trợ
Trong Bát Tự, Mệnh Cung không phải trục chính như trong Tử Vi, nhưng một số thầy vẫn dùng nó để bổ sung phần khí chất bên trong, hướng đi đời sống và cảm giác hậu vận. Công cụ lập lá số thường tính sẵn, nên điều quan trọng hơn là biết đặt nó vào đúng vai trò.
Mệnh Cung có ích khi bạn muốn hiểu thêm lớp động lực nội tại hay khuynh hướng sâu của một người. Nhưng nếu lấy riêng Mệnh Cung để kết luận nghề nghiệp hay hôn nhân thì rất dễ lệch. Nó là đường phụ, không phải khung chính.
Thần Sát là tham chiếu, không phải cốt lõi
Thần Sát có rất nhiều, nhưng trong thực hành chỉ một số loại được dùng thường xuyên như Thiên Ất Quý Nhân, Văn Xương, Thái Cực Quý Nhân, Bạch Hổ, Cô Thần, Quả Tú, Dương Nhận. Chúng có giá trị ở chỗ gợi ý loại sự việc nên lưu ý.
Tuy vậy, nếu tách Thần Sát ra khỏi bản cục để phán đoán thì rất dễ đi sai. Cục gốc vững thì một hung sát hiếm khi đủ để lật toàn bàn; cục gốc yếu và vận cũng xấu thì vài cát tinh cũng khó xoay đại cục. Vì vậy Thần Sát nên được dùng như phần đối chiếu thêm, còn trọng tâm vẫn phải nằm ở sinh khắc chế hóa của can chi.
Kết lại
Đại Vận cho khung mười năm, Lưu Niên cho diễn biến từng năm, Mệnh Cung bổ thêm lớp nội tâm, Thần Sát làm dấu hiệu tham khảo. Trật tự này không nên đảo ngược.
Nếu muốn học cách đọc động, cách nhanh nhất là lấy lá số thật và hỏi: vì sao đúng vận đó lại đổi chiều, vì sao đúng năm đó sự việc bùng ra. Khi bạn lần ngược được từ ứng sự về Đại Vận và Lưu Niên, cảm giác đọc mệnh sẽ chắc hơn nhiều. Muốn tự thử ngay trên lá số của mình, bạn có thể vào Bát Tự Minh Minh Quán Chỉ để lập lá số và chồng Đại Vận, Lưu Niên lên mà kiểm từng bước.
Mục lục bài viết
10 bài
